Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao: Cần tăng nhanh cả chất và lượng

Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao hiện vẫn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, theo xu hướng, Tuyên Quang đang thực hiện nhiều giải pháp tăng nhanh cả về chất và lượng các hợp tác xã nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn.

Tuyên Quang hiện có 290 hợp tác xã nông lâm nghiệp đang hoạt động. Trong số này, có 13 hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao. Các hợp tác xã này đáp ứng nhu cầu sử dụng các sản phẩm nông nghiệp để đảm bảo chất lượng đòi hỏi một chế độ sản xuất, canh tác theo tiêu chuẩn. Đặc biệt, khi đưa các sản phẩm này ra thị trường thì đòi hỏi công nghệ sản xuất hàng hóa ngày một nâng cao. Để đảm bảo các yếu tố này, các Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao ra đời đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm nông nghiệp cho người tiêu dùng.


Các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ được giới thiệu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ
ngành nông nghiệp năm 2020.

Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Khau Tinh (Na Hang) mới bắt tay vào sản xuất rau an toàn từ tháng 9 - 2019. Ông Bàn Văn Ta, Giám đốc Hợp tác xã cho biết, hợp tác xã có 2 ha rau an toàn, áp dụng hoàn toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, chủ yếu là các loại rau trái vụ như su hào, bắp cải. Sản phẩm của Hợp tác xã hiện bắt đầu được thị trường chấp nhận. Cuối năm 2019, sản phẩm rau an toàn của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Khau Tinh đã được cấp chứng nhận VietGAP. Đây là thay đổi quan trọng với các thành viên trong hợp tác xã khi hầu hết thành viên là người Dao, lâu nay tư duy sản xuất vẫn chỉ dừng lại ở việc tự cung tự cấp. Năm 2020, mục tiêu của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Khau Tinh là nâng diện tích trồng rau an toàn từ 2 ha lên 5 ha. 11 thành viên không có đủ diện tích đất sản xuất tập trung, hầu hết mỗi hộ thành viên chỉ có vài trăm m2 đất, người nhiều cũng 1 - 2 nghìn m2 khiến việc ứng dụng đồng bộ các khâu làm đất, chọn giống, chăm sóc gặp nhiều khó khăn. Trước thực trạng đó các thành viên của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Khau Tinh thống nhất góp vốn, thuê 2 ha đất liền khoảnh của những người dân chưa có nhu cầu sử dụng để thực hiện mô hình, với giá thuê 20 triệu đồng/năm.

Giám đốc Hợp tác xã Bàn Văn Ta cho biết, sản lượng rau năm 2020 dự kiến đạt trên 300 tấn. Tuy nhiên để tiệm cận với khái niệm Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn nhiều việc phải làm. Ông Ta minh chứng, hiện các kỹ thuật tưới tiên tiến, tưới tiết kiệm chưa được ban quản trị tiếp cận, nên mặc dù là một trong 13 hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh, nhưng về lâu dài, để thực sự mang đúng nghĩa là công nghệ cao, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Khau Tinh phải thay đổi cách thức sản xuất, qua đó, giảm công lao động, tăng thu nhập cho các thành viên.

Phát huy sự chủ động

Thực hiện kế hoạch số 25 ngày 11-3 - 2019 của UBND tỉnh về phát triển hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh, toàn tỉnh đã thành lập mới 86 hợp tác xã nông lâm nghiệp, vượt 6 hợp tác xã so với kế hoạch. Theo kế hoạch này, hết năm 2020, toàn tỉnh phải thành lập được 15 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao, đến nay đã có 13 hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao được thành lập.

Hợp tác xã Chè Ngân Sơn - Trung Long, xã Trung Yên (Sơn Dương) là một trong 13 hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh. Đây là một trong những hợp tác xã sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và có ứng dụng công nghệ tưới bán tự động. Anh Nguyễn Mạnh Thắng, Giám đốc Hợp tác xã Ngân Sơn -Trung Long cho biết, từ 7 ha với 18 hộ được hỗ trợ lắp đặt hệ thống phun mưa tự động, đến nay Hợp tác xã đã phát triển lên gần 20 ha được lắp đặt hệ thống tưới phun mưa tự động. Công nghệ này giúp chè đạt năng suất búp tươi từ 90-100 tấn/ha/năm, tăng hơn 10 tấn/ha/năm so với trước kia, tiết kiệm chi phí nhân công, tiền điện. Việc ứng dụng hệ thống tưới này đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực, chủ động nước tưới nên việc bón phân sẽ đúng thời vụ không phụ thuộc vào thời tiết và có thể tưới nước cho vùng đồi, nơi khan hiếm nước. Đặc biệt, phương pháp tưới phun mưa còn chủ động và nâng cao hiệu quả phân bón được hòa tan, tăng khả năng hấp thụ của cây chè. Công nghệ này cũng giúp tăng số lứa hái, giảm thời gian “nghỉ” giữa các lứa chè. Người trồng chè có thêm chè vụ đông, giá bán thường cao hơn vào dịp Tết, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Theo Phòng Kinh tế và Hợp tác, Chi cục Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hầu hết các hợp tác xã này mới chỉ dừng lại ở áp dụng kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, bảo quản, trong khi đó, số lượng các hợp tác xã ứng dụng công nghệ tự động hóa và công nghệ sinh học gần như còn rất hạn chế. Nguyên nhân, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, là do trình độ năng lực quản lý của hầu hết các hợp tác xã nông nghiệp còn thấp, phần lớn các hợp tác xã lúng túng trong lựa chọn công nghệ cao ứng dụng vào sản xuất, bản thân các địa phương thiếu đội ngũ tư vấn giỏi về công nghệ cao... Trong khi đó, việc đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao thường cần vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, vì vậy cần phải có định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đánh giá và dự báo về thị trường mục tiêu để việc đầu tư tín dụng hiệu quả. Thêm vào đó, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng và hỗ trợ của Nhà nước đối với các hợp tác xã nông nghiệp nói chung và hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nói riêng cũng còn những hạn chế, dẫn đến tình trạng hầu hết các hợp tác xã nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao chủ yếu tập trung vào sản xuất một số mặt hàng “ăn liền” như rau, trái cây, giống cây trồng, hoa,... cho nên giá trị sản xuất của các sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao so với phương thức sản xuất thông thường chưa cao.

Về lâu dài, ngoài việc tập trung phát triển các chuỗi giá trị sản xuất, có ứng dụng công nghệ tiên tiến, tỉnh cũng đang tập trung triển khai việc thí điểm đưa cán bộ trẻ tốt nghiệp đại học, cao đẳng về làm việc tại các hợp tác xã nông nghiệp để có thể hỗ trợ thành phần này phát triển sản xuất, kinh doanh, ứng dụng công nghệ cao vào thực tế hiệu quả hơn.

Báo Tuyên Quang

Tin cùng chuyên mục