Kinh tế lâm nghiệp Tuyên Quang phát triển theo hướng bền vững

MT&ĐS – Với lợi thế tiềm năng về đất đai, rừng, nhân lực, phát triển kinh tế lâm nghiệp thực sự là điểm nhấn quan trọng, có đóng góp đáng kể trong cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp; đồng thời tỉnh cũng đã đề ra nhiệm vụ tái cơ cấu lâm nghiệp là một phần của tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới.

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, với diện tích đất lâm nghiệp là 446.630 ha, chiếm 76,1 % tổng diện tích đất tự nhiên (các Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế quản lý: 32.533,9 ha; hộ gia đình: 73.974,4 ha…), trong đó diện tích đất có rừng trên 415.000 ha (rừng tự nhiên: 268.000 ha; rừng trồng: 148.000 ha). Giai đoạn 2005 – 2015, hàng năm tỉnh Tuyên Quang trồng trên 14.000 ha rừng các loại, khai thác trên 400.000 m3 gỗ, độ che phủ của rừng luôn duy trì trên 64%, là một trong những tỉnh có độ che phủ lớn nhất cả nước. Vốn rừng hiện có là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực: công nghiệp chế biến gỗ, phát triển du lịch sinh thái, ngành nghề thủ công mỹ nghệ…, đó là yếu tố nền tảng để Tuyên Quang phát triển bền vững kinh tế rừng gắn với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Tuy có những thuận lợi nhất định, nhưng hiện tại sản xuất lâm nghiệp của Tuyên Quang cũng còn nhiều hạn chế, sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, năng suất rừng trồng bình quân của Tuyên Quang đạt thấp (khoảng 75 m3/ha), thu nhập từ nghề rừng chưa tương xứng với tiềm năng; còn thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với tiêu thụ, chế biến dẫn đến thu nhập của người dân còn thấp, cuộc sống của người làm nghề rừng còn nhiều khó khăn, đây là nút thắt lớn nhất dẫn đến người dân chưa thực sự mặn mà trong việc phát triển kinh tế từ nghề rừng.

Để sớm khắc phục các hạn chế nêu trên, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã lựa chọn: Phát triển kinh tế nông lâm nghiệp hàng hóa là một trong 3 lĩnh vực đột phá của tỉnh.  Thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp phải theo hướng phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, chuyển mạnh sản xuất từ manh mún sang sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu sang phát triển theo chiều sâu là nâng cao chất lượng, hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; tuân thủ nguyên tắc và yêu cầu của thị trường; đảm bảo hài hòa hai mục đích là tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững… tăng thu nhập cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và thay đổi diện mạo nông thôn của tỉnh nhằm thực hiện có hiệu quả“Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” theo Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Tỉnh Tuyên Quang đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế lâm nghiệp đến năm 2020:

151217_TuyenQuang1

– Quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; duy trì độ che phủ rừng đạt trên 60%; thâm canh có hiệu quả vùng sản xuất gỗ nguyên liệu giấy khoảng 163.000 ha với loài cây trồng chính là cây Keo (keo lai, keo tai tượng); vùng sản xuất gỗ lớn phục vụ xây dựng, gia dụng: khoảng 69.000 ha (tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình) và vùng sản xuất gỗ nhỏ phục vụ chế biến khác khoảng 38.000 ha với loài cây trồng chính là keo, mỡ, lát, sấu, giổi, xoan ta.

– Giai đoạn 2015 – 2020, mỗi năm khai thác và trồng lại trên 9.000 ha rừng trồng, sản lượng gỗ khai thác trên 800.000 m3/năm (tăng trên 400.000 m3 so năm 2014), trong đó 28% là gỗ chế biến (tăng trên 80.000 m3 so năm 2014), 72% gỗ nguyên liệu giấy (tăng trên 300.000 m3 so với năm 2014) để phục vụ nhu cầu chế biến và sử dụng: Gỗ lớn: 10.000 m3; gỗ nhỏ và vừa (ván thanh, MDF, gia dụng khác…) 150.000 m3; gỗ giấy 540.000 m3; gỗ cho nhu cầu xã hội khác là 100.000 m3; tre nứa (ván ghép thanh, giấy và bột giấy đế, đũa…) 22.500 tấn.

– Lồng ghép nguồn vốn Trung ương, vốn của tỉnh và vốn của Doanh nghiệp để hỗ trợ trồng rừng gỗ nguyên liệu, gỗ lớn, hỗ trợ thực hiện cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC cho khoảng 9.000 ha rừng trồng. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong sản xuất giống cây lâm nghiệp và trồng rừng, phấn đấu đến năm 2020 có trên 80% diện tích rừng trồng được trồng bằng giống vô tính (mô, hom), giống hạt chất lượng cao.

Đồng thời, tỉnh Tuyên Quang cũng đã xác định rõ, phát triển kinh tế rừng phải gắn với tái cơ cấu lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đó là:

– Bảo vệ nghiêm rừng tự nhiên; tập trung nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, chuyển hóa một số diện tích rừng trồng sang kinh doanh gỗ lớn và kết hợp gỗ lớn với cung cấp nguyên liệu giấy, giảm dần sản lượng dăm gỗ, nâng cao hiệu quả trong chế biến gỗ rừng trồng; xây dựng Chứng chỉ quản lý rừng bền vững để xuất khẩu sản phẩm từ gỗ rừng trồng.

– Cơ bản ổn định cơ cấu 3 loại rừng hiện có; nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật xây dựng hệ thống nguồn giống năng suất, chất lượng cao và sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản cung cấp đủ giống cho nhu cầu trồng rừng của tỉnh; tổ chức quản lý, bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng hiện có; thực hiện các biện pháp phục hồi, làm giàu trên 6.500 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên (phấn đấu đến năm 2020, nâng cao trữ lượng rừng tự nhiên là rừng sản xuất lên 25% so với hiện nay, đạt tốc độ tăng bình quân từ 4 – 5 m3/ha/năm).

– Bảo tồn các hệ sinh thái, cảnh quan, tài nguyên đa dạng sinh học, nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường. Tạo nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ hệ sinh thái và chuyển nhượng tín chỉ Cacbon. Thực hiện xã hội hóa nghề rừng, thu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng, đầu tư phát triển cây lâm sản ngoài gỗ gắn với phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống.

– Trồng rừng tập trung, bình quân 10.000 ha/năm, đến năm 2020 diện tích rừng trồng sản xuất đạt khoảng 140.000 ha, có trên 80% diện tích rừng được trồng bằng giống vô tính, giống hạt chất lượng cao; năng suất rừng trồng đạt bình quân trên 100m3/ha/chu kỳ 7 – 8 năm; chuyển đổi từ kinh doanh gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn 11.000 ha, đưa năng suất rừng đạt 120 m3/ha; có 9.000 ha rừng được cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC; giá trị sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) đạt trên 1 nghìn tỷ đồng, trong đó, khai thác gỗ rừng trồng tập trung chiếm 91% và khai thác cây trồng phân tán 9% (trong đó gỗ lớn chiếm trên 20%).

Nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế rừng gắn với tái cơ cấu lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới, tỉnh Tuyên Quang đã đề ra một số nhóm giải pháp chủ yếu:

Thứ nhất: Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và kỹ thuật vào sản xuất cây giống lâm nghiệp và trồng rừng, như: Ứng dụng chuyển giao công nghệ sản xuất giống bằng phương pháp nuôi cấy mô và kỹ thuật trồng thâm canh rừng keo lai bằng cây giống nuôi cấy mô, mục tiêu cốt lõi là nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, rút ngắn chu kỳ kinh doanh của rừng trồng sản xuất…tăng giá trị kinh tế, môi trường của rừng, đảm bảo phát triển kinh tế rừng bền vững.

Thứ 2: Hoàn thiện và tổ chức triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch thuộc lĩnh vực lâm nghiệp; tăng cường quản lý giám sát, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch để điều chỉnh, bổ sung phù hợp với xu thế phát triển từng giai đoạn; huy động mọi nguồn lực để phát triển các vùng nguyên liệu theo quy hoạch được duyệt, ở tuyên quang các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư, nhà nước hỗ trợ. Thực hiện giải pháp này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt quy hoạch vùng cung cấp nguyên liệu cho 5/6 cơ sở chế biến lớn trong tỉnh với diện tích 201.420,7 ha, trong đó: Quy hoạch cho Nhà máy bột giấy và giấy An Hoà (công suất 130.000 tấn sản phẩm/năm, nhu cầu gỗ nguyên liệu 695.000 m3/năm): 163.358,8 ha; quy hoạch cho Nhà máy chế biến gỗ Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang (nhu cầu gỗ nguyên liệu chế biến đồ gỗ xuất khẩu 615.000 m3/năm): 4.630 ha; quy hoạch cho Nhà máy sản xuất đũa Phúc Lâm, huyện Chiêm Hóa (công suất 300.000.000 đôi/năm): 2.627 ha; quy hoạch cho Nhà máy sản xuất đũa tre, giấy đế và bột giấy Na Hang (nhu cầu nguyên liệu 16.000 tấn): 22.791,0 ha; quy hoạch cho Nhà máy chế biến gỗ Công ty cổ phần gỗ Đông Dương: 8.013,9 ha.

Thứ 3: Củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý: Thực hiện kiện toàn hệ thống tổ chức theo Quyết định số 1920/QĐ-TTg ngày 24/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm giai đoạn 2014 – 2020; củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Công ty lâm nghiệp theo thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TW, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị, Nghị định 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ; đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp; phát triển kinh tế hợp tác, chú trọng phát triển các loại hình kinh tế hợp tác hoạt động sản xuất gắn với cung ứng dịch vụ theo chuỗi giá trị; hình thành các mô hình tổ hợp tác, HTX chuyên ngành lâm nghiệp….

Thứ 4: Tăng cường cải cách thể chế, đổi mới và nâng cao hiệu quả các cơ chế, chính sách: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách hiện hành liên quan đến đầu tư phát triển lâm nghiệp; triển khai thực hiện Nghị định 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 -2020; ban hành các chính sách hỗ trợ như, chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng nguyên liệu gỗ lớn, hỗ trợ xây dựng nhà sản xuất và nuôi cấy mô, hỗ trợ trồng rừng sản xuất….

Thứ 5: Tăng cường thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đầu tư công:

– Ưu tiên đầu tư, hỗ trợ phát triển rừng sản xuất; khoán bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ nơi chưa có nguồn thu; phát triển hệ thống nguồn giống cây trồng lâm nghiệp chất lượng cao trên địa bàn tỉnh; xây dựng và triển khai thực hiện các mô hình khai thác hợp lý kết hợp gây trồng các cây dược liệu, các sản phẩm ngoài gỗ có giá trị khác; đổi mới dây chuyền, công nghệ chế biến sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu.

– Nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng, theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ khai thác gỗ nhỏ, sang khai thác gỗ lớn nhằm tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

– Đầu tư nâng cao năng lực cho lực lượng kiểm lâm, năng lực dự báo và phòng cháy chữa cháy rừng; đầu tư phát triển mô hình quản lý lâm nghiệp cộng đồng và phát triển dịch vụ môi trường rừng.

Thứ 6: Thực hiện tốt công tác quản lý, quy hoạch sử dụng đất đai để phát triển các vung sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh ứng dụng công nghệ cao: Tăng cường công tác quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; khuyến khích các doanh nghiệp và người dân thực hiện việc góp vốn cổ phần, liên kết sản xuất bằng đất đai; đẩy nhanh tiến độ giao rừng, giao đất sản xuất cho các doanh nghiêp và hộ gia đình, trong đó ưu tiên bố trí đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ dân tái định cư các công trình thủy điện trên địa bàn và các hộ còn thiếu đất sản xuất…

Thứ 7: Tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng nhãn hiệu hàng hóa; phấn đấu cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC cho khoảng 6% diện tích rừng trồng toàn tỉnh để xuất khẩu sản phẩm từ gỗ rừng trồng.

Thứ 8: Huy động mọi nguồn lực để thực hiện Phát triển bền vững kinh tế rừng gắn với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới: Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn được cấp phát từ trung ương như nguồn vốn đầu tư phát triển cho các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, vốn sự nghiệp khoa học, vốn bố trí từ ngân sách địa phương, vốn doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân đầu tư để phát triển sản xuất và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Tóm lại: Với lợi thế về đất đai, tài nguyên rừng, sự quan tâm, quyết tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự phối hợp của các cấp, các ngành liên quan; đặc biệt là sự nỗ lực cố gắng của toàn ngành lâm nghiệp và sự tích cực của người dân. Kinh tế rừng của Tuyên Quang thực sự đã và đang có những bước tiến dài, năng suất của rừng được nâng lên, hiệu quả về xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, hiệu quả về kinh tế từ rừng đã rõ rệt, Tuyên Quang không phải hứng chịu thiệt hại do bão lũ, thiên tai, hạn hán…; Tuyên Quang có nhiều hộ gia đình thoát đói, nghèo và trở nên khá giả nhờ phát triển có hiệu quả kinh tế rừng, hơn thế Tuyên Quang còn có những tỷ phú, triệu phú rừng; đó thực sự là kết quả, niềm vui, niềm tự hào của kinh tế rừng tại Tuyên Quang, những kết quả bước đầu này đã góp phần hiện thực hóa các chỉ tiêu, mục tiêu tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Tuyên Quang./.

Nguồn: báo Môi trường và Đời sống
Tác giả Triệu Đăng Khoa, Phó Chi cục lâm nghiệp Tuyên Quang.

Tin cùng chuyên mục