“Phép màu” nhờ lòng kiên nhẫn

Anh Thắng kể con đường từ khi bắt tay vào sản xuất chè hữu cơ cho tới khi được chứng nhận vào tháng 11-2019  “vất vả đủ đường”. Anh bảo: “Chẳng ai ủng hộ mình cả, nhiều người gàn lắm. Khó nhất vẫn là thay đổi tư duy thôi”. Thế nhưng nhờ lòng dũng cảm và kiên nhẫn, anh đã thuyết phục không chỉ gia đình mình ủng hộ mà còn thuyết phục các thành viên trong Hợp tác xã nghe và làm theo. Từ chỗ chỉ sản xuất chè theo phương pháp thông thường, dùng phân bón hóa học và thuốc phòng trừ sâu bệnh trên thị trường theo quy định để cho ra các sản phẩm chè cũng thông thường đến việc tổ chức trồng và chăm sóc chè theo phương pháp hữu cơ, tức là sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc phòng trừ sâu bệnh sinh học là cả một bước đột phá của hợp tác xã. Đặc biệt là đánh dấu sự thay đổi về tư duy, nhận thức của người làm chè.

Anh Thắng kể: “Ban đầu mình áp dụng trên 8.000m2 chè của gia đình. Cây chè đang quen với việc bón phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật rồi, mình chuyển sang bón phân hữu cơ, thuốc phòng sâu bệnh sinh học cây chè bị “sốc”, chỉ một tháng sau lá vàng sạch, mình cũng “sốc” theo. Tưởng là toàn bộ diện tích chè của gia đình bị chết, mình không ăn, không ngủ được. Sau đó bình tĩnh lại, mình tìm hiểu thì mới biết đó là khoảng thời gian cây chè đang phải thích nghi với phương pháp chăm sóc mới. Phải mất 6 tháng sau, cây chè mới dần lấy lại màu xanh và sinh trưởng bình thường.” Từ kinh nghiệm này, anh Thắng vận động, hướng dẫn các thành viên trong hợp tác xã kiên nhẫn và mạnh dạn thực hiện.

Anh Thắng bảo, trồng chè và sản xuất chè theo phương pháp hữu cơ vừa phải kiên nhẫn lại vừa phải có trái tim bằng thép. Vì nếu nản, nếu sợ thất bại thì chẳng bao giờ dám theo đuổi. 6 đến 7 tháng đầu trồng chè hữu cơ, cây chè không cho thu hoạch lứa nào mà người trồng chè lại phải vất vả nhất. Anh Thắng cũng như các thành viên trong hợp tác xã tự mình đăng ký các lớp tập huấn về phương pháp trồng chè hữu cơ. Dần dần anh biết cách tự làm phân bón hữu cơ sinh học từ đậu tương, ngô và kỹ thuật ngâm, ủ để làm ra thuốc phòng trừ sâu bệnh hại cây chè từ các nguyên liệu như gừng, tỏi, ớt, rượu…

Trồng và chăm sóc chè theo phương pháp hữu cơ tuy năng suất, sản lượng chè tươi thu hái được thấp hơn chè thông thường từ 2 đến 3 lần nhưng thu nhập mang lại cho người trồng chè lại cao gấp 3 lần. Anh Thắng cũng như các thành viên trong hợp tác xã cũng thay đổi hoàn toàn phương pháp trồng, chăm sóc chè. Nếu như trước đây, mỗi lứa chè, anh Thắng phun thuốc phòng trừ sâu bệnh hại 1 lần thì nay, có khi cả năm mới phải dùng thuốc trừ sâu 2 lần nhưng là thuốc trừ sâu sinh học do anh Thắng tự chế.

Câu chuyện chuyển từ trồng chè theo phương pháp thông thường sang trồng chè theo phương pháp hữu cơ ở Trung Long là cả một kỳ tích của người nông dân bao năm gắn bó với cây chè. Hiện nay, Hợp tác xã Ngân Sơn - Trung Long có 8 thành viên, trong đó có 7 thành viên đang trồng chè hữu cơ với diện tích 3 ha. Bình quân mỗi năm, các thành viên thu từ 15 đến 16 tấn chè tươi và 3,1 tấn chè khô trên diện tích này. Giá chè được sản xuất theo phương pháp hữu cơ đang được hợp tác xã bán với giá cao nhất là 1.500.000 đồng/kg, thấp hơn một chút là 800.000 đồng/kg.

Bà Vũ Thị Thảo, thành viên hợp tác xã hiện có hơn 1 mẫu chè được trồng theo phương pháp hữu cơ. Bà Thảo bảo: “Trước đây, tôi trồng chè Vietgap, chè tươi chỉ bán được giá từ 10.000 đồng - 12.000 đồng/kg nhưng nay trồng chè theo phương pháp hữu cơ, gia đình tôi bán 25.000 đồng/kg chè tươi. Mất 6 tháng đầu, toàn bộ diện tích chè chuyển sang trồng theo phương pháp hữu cơ tưởng là “đi tong” nhưng được tập huấn, chúng tôi bình tĩnh xử lý và chờ đợi. Dần dần cây chè bình phục sau khi thích nghi với phương pháp mới. Khi cây chè khỏe mạnh sẽ tự kháng lại được sâu bệnh. Người trồng chè hữu cơ như tôi không phải phun thuốc phòng trừ sâu bệnh như trước mà chỉ bón phân hữu cơ thôi. Bên cạnh đó, cách 2 đến 3 tháng, tôi mới phải dùng thuốc phòng bệnh cho chè nhưng là thuốc sinh học do tôi tự làm từ các nguyên liệu thảo mộc. Mỗi tháng, chè cho thu hoạch 2 lứa chè tươi. Thu nhập cao gấp 2 lần so với trồng chè trước đây”.

Cũng theo bà Thảo, tuy năng suất, sản lượng của chè hữu cơ không bằng chè thường nhưng nhờ giảm được chi phí về nhân công mà giá bán lại cao nên người làm chè hữu cơ vừa nhàn mà lại có thu nhập cao. Những giọt mồ hôi lấm tấm trên gương mặt của bà Thảo khi hái chè nhưng vẫn toát lên nụ cười giòn tan khi nói về chuyện trồng chè hữu cơ. Bà bảo: “Nếu lúc đầu thấy chè bị vàng, khô, héo rũ mà tôi buông xuôi chắc không có những búp chè mơn mởn như thế này”.

Câu chuyện làm chè hữu cơ mang đến thu nhập cao cho người trồng chè ở Trung Long đúng là phép màu nhưng không phải phép màu từ đâu đến mà đó là phép màu của lòng kiên nhẫn và dám nghĩ, dám làm.

 

Báo Tuyên Quang

Tin cùng chuyên mục