Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang: Kết quả bước đầu sau 05 năm thực hiện.

Sau 5 năm thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2015-2020, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã tăng trưởng khá.
 

Với mục tiêu chuyển dịch kinh tế nông nghiệp của tỉnh sang sản xuất hàng hóa, chất lượng, hiệu quả, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho nông dân, đồng thời làm thay đổi tích cực diện mạo nông thôn của tỉnh gắn với thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và cụ thể hóa “Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 14 tháng 7 năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết định phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2015-2020.


Ảnh:  Cây Cam ở xã Bình Xa, huyện Hàm Yên

Sau 5 năm thực hiện Đề án, giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản bình quân giai đoạn 2013-2017 tăng 4,9%/năm; giá trị tăng thêm ngành nông lâm thủy sản bình quân giai đoạn 2013-2017 tăng 4,53%/năm. Cơ cấu giá trị sản xuất có xu hướng chuyển dịch theo xu hướng tăng tỷ trọng giá trị ngành lâm nghiệp, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, thủy sản (năm 2017: Nông nghiệp chiếm 84,19%, giảm 1,84% so năm 2013; lâm nghiệp chiếm 12,75%, tăng 1,98% so năm 2013; thủy sản chiếm 3,06%, giảm 0,14%); trong nông nghiệp, trồng trọt chiếm tỷ trọng 62,36%, tăng 4,76% so với năm 2013, chăn nuôi chiếm 36,32%, giảm 4,76% so với năm 2013.

Xây dựng, điều chỉnh 09 quy hoạch, ngành lĩnh vực và quy hoạch tổng thể, xây dựng 07 đề án phát triển sản xuất, hỗ trợ thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Các vùng sản xuất chuyên canh cây trồng, vật nuôi chủ lực phát triển mạnh và có sự chuyển biến theo xu hướng sản xuất an toàn, thực hành nông nghiệp tốt, gắn với nhu cầu thị trường: Vùng cam 7.557,5 ha (trong đó sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP là 195,7ha); vùng chè 8.735,5 ha (trong đó chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và Rainforest là 830 ha); vùng lạc khoảng 4.300 ha (trong đó lạc giống 147 ha); vùng mía nguyên liệu trên 10.000 ha; năng suất các cây trồng chủ lực (chè, cam, mía, lạc) tăng bình quân hàng năm từ 1,2%-13%. Diện tích rừng trồng gỗ nguyên liệu hiện có 119.268 ha, trong đó diện tích rừng gỗ lớn 39.720,16 ha, rừng trồng sản xuất được cấp chứng chỉ FSC trên 17.282 ha (đứng thứ 2 toàn quốc, sau tỉnh Quảng Trị). Tốc độ tăng đàn bò bình quân giai đoạn 2013-2017 là 17,53%/năm. Giá trị hàng hoá nông sản chủ lực của tỉnh năm 2017 chiếm 55,53% tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản; thu nhập và đời sống của người dân tiếp tục được nâng lên, góp phần quan trọng đẩy nhanh tiến trình và chất lượng xây dựng nông thôn mới (thu nhập bình quân người dân nông thôn năm 2017 đạt 2,087 triệu đồng/người/tháng, tăng 1,9 lần so năm 2013).

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là công nghệ sản xuất giống, công nghệ bảo quản, chế biến sau thu hoạch: Trồng 1.037 ha rừng bằng cây keo mô, sản xuất 1,98 triệu cây lâm nghiệp bằng phương pháp nuôi cấy mô; sản xuất cá giống đặc sản, thụ tinh trâu bằng phương pháp nhân tạo; xây dựng 293 km kênh mương bằng công nghệ bê tông thành mỏng đúc sẵn; trồng 432 ha cam chu kỳ 2 bằng giống cam ghép sạch bệnh.

Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất; so với năm 2013: Tăng 05 doanh nghiệp, 620 trang trại, 196 hợp tác xã nông lâm nghiệp, thủy sản được củng cố theo Luật HTX năm 2012; hình thành một số chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ hiệu quả (có 54 hợp tác xã có hợp đồng liên kết tiêu thụ).

Làm tốt công tác mời gọi, xúc tiến đầu tư: Thu hút đầu tư 24 dự án phát triển sản xuất, chế biến nông lâm sản, với tổng số vốn cam kết trên 5.766 tỷ đồng, trong đó một số nhà đầu tư lớn, như: Công ty cổ phần tập đoàn DABACO Việt Nam, Công ty cổ phần Woodsland, Công ty TNHH Trường Thọ Việt Nam, Công ty cổ phần Hồ Toản, Công ty cổ phần Tập đoàn TH. Có 37 nhãn hiệu nông sản hàng hóa, trong đó nhiều nông sản hàng hóa tiếp tục khẳng định thương hiệu và chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu.

Kịp thời ban hành các cơ chế chính sách: Tổ chức thực hiện đồng bộ 11 chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn và các thành phần kinh tế; cân đối 582,15 tỷ đồng từ nguồn ngân sách để hỗ trợ thực hiện các chính sách; lồng ghép thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách hỗ trợ từ Trung ương cho nông nghiệp, nông thôn.

Kế thừa những kết quả sau 05 năm thực hiện, tỉnh Tuyên Quang định hướng, mục tiêu cơ cấu lại ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2018-2020 với nhiệm vụ cụ thể: Tập trung phát triển nông nghiệp hàng hóa các sản phẩm chủ lực để tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo sự ổn định và phát triển bền vững. Tiếp tục duy trì và giữ vững những chỉ tiêu đạt kế hoạch; tập trung tổ chức thực hiện các chỉ tiêu đạt thấp, đảm bảo đến năm 2020 đạt mục tiêu đề ra và phấn đấu giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp thủy sản tăng bình quân 4-5%/năm (cụ thể: nông nghiệp tăng trên 4%, lâm nghiệp tăng khoảng 5,5-6%/năm, thủy sản tăng trên 4%); tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành nông lâm thủy sản đạt trên 3%/năm; cơ cấu: Nông nghiệp chiếm trên 84%, lâm nghiệp chiếm trên 12% và thủy sản chiếm khoảng 3%; có trên 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.


Ảnh:  Bưởi  được trồng thâm canh tại một trang trại ở xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn

Tiếp tục thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tỉnh Tuyên Quang xác định “Danh mục sản phẩm hàng hóa chủ lực của tỉnh”, gồm: chè, cam, mía, lạc, gỗ rừng trồng, trâu, cá đặc sản. Phát triển sản xuất nông nghiệp theo quy trình sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường, sản xuất đảm bảo an toàn sinh học và vệ sinh an toàn thực phẩm. Phát triển diện tích chè đạt 8.800ha; ổn định diện tích cam toàn tỉnh 8.300 ha (trong đó phát triển bền vững vùng cam tập trung trên 5.500 ha); mở rộng diện tích mía nguyên liệu lên 15.500 ha, diện tích lạc 5.000 ha; hàng năm trồng trên 10.000 ha rừng tập trung, mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC; phát triển đàn trâu với mức tăng trưởng đạt 1,98%/năm, mở rộng quy mô nuôi cá đặc sản bằng lồng, giá trị sản xuất cá đặc sản chiếm 25%/tổng giá trị sản xuất ngành thủy sản. Đẩy mạnh phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có tiềm năng, như: Cây bưởi, lúa chất lượng cao, chuối, hồng không hạt; khuyến khích mở rộng phát triển chăn nuôi lợn đảm bảo an toàn sinh học và vệ sinh môi trường theo nhu cầu thị trường, khuyến khích mở rộng nghề chăn nuôi ong lấy mật để xuất khẩu.

Triển khai thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nội dung Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới. Đòi hỏi các cấp, các ngành cần chủ động trong việc xây dựng kế hoạch cụ thể hàng năm, xác định nhiệm vụ giải pháp trọng tâm, chủ yếu để tập trung triển khai thực hiện đảm bảo hoàn thành các mục tiêu theo lộ trình Đề án đã xác định./.

Trần Gia Lam/VPĐP NTM

Tin cùng chuyên mục