Tin tức › Khuyến nông - Khoa học công nghệ11/7/2018 8:8

Một số vấn đề về tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang

Sau ba năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, tỉnh Tuyên Quang đã hình thành một số vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa chuyên canh, quy mô lớn; giá trị sản xuất và hiệu quả kinh tế được nâng lên, thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người dân đã thay đổi rõ rệt.

Những kết quả đạt được trong tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang

Thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Tuyên Quang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, giai đoạn 2015-2020. Đồng thời, Sở đã xây dựng 05 Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi, lâm nghiệp. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền và chỉ đạo thực hiện Đề án đã đạt được kết quả bước đầu đáng ghi nhận. Kinh tế nông nghiệp của tỉnh tiếp tục có bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ; năm 2017, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (theo giá so sánh 2010) đạt trên 7.434 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 2015-2017 là 4,02%/năm; giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,95%/năm, lâm nghiệp tăng 4,54%/năm, thủy sản tăng 3,75%/năm; trồng rừng đạt 12.443 ha, duy trì độ che phủ của rừng trên 64%.

Sau 3 năm thực hiện đề án, diện tích rừng trồng sản xuất được cấp chứng chỉ FSC đạt 16.478 ha, việc trồng rừng theo chuẩn thế giới thực sự là một bước tiến dài trong ngành sản xuất lâm nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang, xóa bỏ tình trạng trồng rừng tự phát, không áp dụng khoa học kỹ thuật. Các sản phẩm từ rừng có chất lượng tốt, giá trị cao. Đồng thời, đầu tư xây dựng nhà nuôi cấy mô công suất 1,5 triệu cây giống lâm nghiệp; thu hút đầu tư 04 dự án chế biến gỗ, 01 dự án sản xuất giống cây lâm nghiệp. Các vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn đã có sự chuyển biến tích cực theo xu hướng sản xuất an toàn, gắn với nhu cầu thị trường: Vùng cam 7.557,5 ha (trong đó sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP là 195,7ha); vùng chè 8.735,5 ha (trong đó chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và Rainforest là 830 ha); vùng lạc 4.294 ha (trong đó lạc giống 147 ha); vùng mía 10.831 ha.

Sở Nông nghiệp và PTNT luôn xác định thực hiện tái cơ cấu ngành phải gắn với xây dựng nông thôn mới, việc gắn kết này thể hiện ngay từ việc xây dựng kế hoạch đến việc thu hút đầu tư. Trong quá trình tổ chức thực hiện các tiêu chí của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tích cực và phát triển bền vững. Hết năm 2017, toàn tỉnh có 23 xã đạt chuẩn nông thôn mới; đồng thời, Sở đã xây dựng kế hoạch củng cố, duy trì, giữ vững và nâng cao chất lượng 19/19 tiêu chí nông thôn mới tại các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới.

Một vấn đề quan trọng nữa để thực hiện thành công tái cơ cấu ngành nông nghiệp là tổ chức lại sản xuất, phát triển các hình thức liên kết. Hiện nay, toàn tỉnh có 200 hợp tác xã nông lâm nghiệp thủy sản; trong đó có 54 hợp tác xã có hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm với người sản xuất, bước đầu mang lại hiệu quả. Tỉnh đã mời gọi, thu hút đầu tư được 18 dự án phát triển sản xuất, chế biến nông lâm sản, với tổng số vốn cam kết trên 1.500 tỷ đồng.

 Công ty Cổ phần chè Mỹ Lâm xây dựng mô hình liên kết sản xuất mới với diện tích trên 200 ha theo phương thức: Công ty thành lập các tổ dịch vụ thực hiện bón phân, phun thuốc, thu hái; nông dân thực hiện các công việc còn lại và tham gia quản lý vườn chè; hình thức này giúp quản lý chặt chẽ được chất lượng nguyên liệu và sản phẩm, sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn của Châu Âu. Từ đó, góp phần tăng thu nhập gần 40% cho người trồng chè so với sản xuất chè thông thường. Đây sẽ là nền tảng quan trọng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng trong ngành nông nghiệp trong những năm tới. Những biến động và xu hướng phát triển của thị trường quốc tế đã có những ảnh hưởng nhất định đến sản xuất nông nghiệp trong nước nói chung và nông nghiệp của tỉnh nói riêng, đặc biệt là xu hướng tiêu thụ sản phẩm có chỉ dẫn địa lý, sản phẩm sản xuất theo tiêu chuẩn, quy chuẩn, có thương hiệu, nhãn hiệu với sự giám sát chặt chẽ về chất lượng, đảm bảo vệ sinh thực phẩm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ là xu hướng tất yếu trong nông nghiệp hiện nay. 

 
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Nguyễn Xuân Cường chủ trì đoàn công tác thăm mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn Rainforest của Công ty Cổ phần chè Mỹ Lâm

Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, hiện có 31 sản phẩm được đăng ký nhãn hiệu. Sản phẩm chè Bát tiên Mỹ Bằng, mật ong Tuyên Quang được  “Tôn vinh sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu năm 2017” và 02 sản phẩm: Cá Lăng, chè đặc sản Vĩnh Tân được bình chọn danh hiệu “Thương hiệu Vàng nông nghiệp Việt Nam 2017”, Bưởi Xuân Vân đứng Top 10 Thương hiệu - Nhãn hiệu nổi tiếng năm 2018. Tỉnh đang tiếp tục hướng dẫn xây dựng chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm cam sành Hàm Yên và một số sản phẩm nông sản có tiềm năng của tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Tuyên Quang còn gặp một số tồn tại, hạn chế:

 Số hợp tác xã và doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc có hợp đồng liên kết, tiêu thụ sản phẩm với người dân còn ít (có 54/200 hợp tác xã chiếm 27%); một số liên kết sản xuất giữa người nông dân với doanh nghiệp và hợp tác xã còn chưa chặt chẽ, thiếu bền vững; nhiều hợp tác xã hoạt động còn hình thức, hiệu quả thấp. Sản phẩm sản xuất theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn còn ít. Thiếu các doanh nghiệp đầu tàu trong chuỗi liên kết với nông dân.

Để thực hiện tốt Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong thời gian tới Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp sau:

Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan và các doanh nghiệp đẩy mạnh đưa khoa học công nghệ vào khâu sản xuất, chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sản xuất giống bằng phương pháp nuôi cấy mô (cây mía, giống cây lâm nghiệp...); sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá lăng, cá chiên...; phục tráng, nâng cao tầm vóc đàn trâu; ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho cam, chè, mía.

 
Mô hình chăn nuôi trâu nuôi nhốt tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang

Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý trong nông nghiệp, nông thôn, nhất là việc sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, các tổ hợp tác, mở rộng các ngành nghề dịch vụ, gắn với chuỗi cung ứng sản phẩm hàng hóa, đảm nhiệm tốt vai trò đại diện của nông dân trong chuỗi sản xuất - tiêu thụ. Xây dựng và thực hiện sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Duy trì, tuyên truyền mở rộng quy mô các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn của Việt Nam và quốc tế.

Thực hiện có hiệu quả cơ chế, chính sách của tỉnh về hỗ trợ phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế trang trại, chính sách phát triển chăn nuôi nông hộ và chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; thu hút các doanh nghiệp thực hiện các Dự án liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và cải thiện môi trường đầu tư; chủ động phối hợp với các Doanh nghiệp đang đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp để tháo gỡ khó khăn, tiếp cận các chính sách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; tập trung phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển hàng hóa các sản phẩm nông sản chủ lực, góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới, không ngừng nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân ...
                                   Nguồn TTKN Quốc gia
Tác giả: Nguyễn Văn Việt
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Tuyên Quang.

Lượt xem: 1024

Tin mới nhất:

Văn bản chỉ đạo điều hành

Công điện số 14/CĐ-TW ngày 18/7/2018 của Ban Chỉ đạo TWPCTT - Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, TT&TKCN chỉ đạo ứng phó với áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét và sạt lở đất

Văn bản số 1121/SNN-TL ngày 17/7/2018 về việc chủ động ứng phó với ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 3

Văn bản số 813/TT-CLT ngày 17/7/2018 V/v chỉ đạo sản xuất ứng phó với cơn bão Sơn Tinh

Văn bản số 1085/SNN-TTr ngày 13/7/2018 V/v tăng cường công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng trên địa bàn

Công văn số 1026/SNN-KH ngày 06/07/2018 về việc đôn đốc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm 2018

V/v chủ động phòng, chống và khắc phục hậu quả do thiên tai, mưa lũ trong nuôi trồng thủy sản

Văn bản 997/SNN-KH ngày 02/7/2018 V/v xây dựng kế hoạch ngành nông nghiệp, nông thôn và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019

Văn bản số 987/SNN-TTR  ngày 29/6/2018 V/v tổ chức Tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về quản lý, sử dụng vật tư nông nghiệp theo hướng an toàn thực phẩm năm 2018

Văn bản số 121/TTBVTV-BVTV về việc phòng trừ một số dịch hại sau mưa lũ vụ mùa năm 2018

Công bản số 944/SNN-TCCB V/v thực hiện Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 28/5/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh

Công văn số 952/SNN-CNTY ngày 26/6/2018 V/v tăng cường thực hiện các biện pháp phòng dịch bệnh trong mùa nắng nóng, mưa lũ cho đoàn gia súc, gia cầm

Công văn số 794/SNN-TL V/v chủ động phòng chống mưa lũ, sạt lở đất

Tuyên Quang

Số lượt truy cập: 527433- Đang online : 2659