Hướng dẫn Kỹ thuật › Trồng trọt - BVTV10/9/2017 10:49

Quy trình kỹ thuật phòng, chống bệnh bạc lá lúa

I. Mục tiêu
 
Nhằm đưa ra các biện pháp kỹ thuật để phòng, chống bệnh bạc lá lúa (cháy bìa lá) hiệu quả, góp phần tăng năng suất và đảm bảo sản xuất an toàn, bền vững.
 
II. Phạm vi áp dụng
 
Quy trình kỹ thuật này được phổ biến và áp dụng cho các tổ chức, cá nhân sản xuất lúa.

III. 
Triệu chứng, đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh bạc lá lúa
 
1. Triệu chứng
 
Vết bệnh xuất hiện từ mép lá, thường từ chóp lá, mút lá, sau đó lan dần vào trong phiến lá hoặc kéo dài theo gân chính, hoặc vết bệnh xuất hiện ngay giữa phiến lá lan rộng ra.
 
Thông thường ranh giới giữa mô bệnh và mô khoẻ được phân biệt rõ ràng theo đường gợn sóng màu vàng hoặc viền nâu.
Trong điều kiện ẩm độ cao, trên bề mặt vết bệnh xuất hiện những giọt dịch vi khuẩn có màu vàng đục, khi giọt dịch keo đặc lại rất cứng có màu nâu hổ phách. Bệnh hại nặng làm lá lúa khô xác.    
 
2. Tác nhân gây bệnh
 
Bệnh bạc lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv. Oryzae gây ra. Nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn phát triển là 26-30°C, pH thích hợp là 6,8 - 7, ẩm độ không khí trên 90%. Vi khuẩn gây bệnh bạc lá lúa xâm nhập vào lá lúa qua lỗ khí khổng và các vết thương cơ giới trên lá. Tùy vào mức độ mưa, bão làm va chạm gây sát thương lá lúa mà bệnh phát sinh rộng hay hẹp.
 
3. Đặc điểm phát sinh, phát triển
 
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ấm nóng và thường gây hại nặng trong vụ lúa mùa. Thời tiết ẩm ướt, nhiều mưa gió, bão là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh, phát triển.
 
Những ruộng bón quá nhiều đạm, bón lai rai, bón phân không cân đối, cây lúa xanh tốt, thân lá mềm yếu, hàm lượng đạm tự do trong cây tích luỹ cao thì cây dễ nhiễm bệnh nặng. Những chân ruộng chua, trũng, đặc biệt là những vùng đất hẩu, hàng lúa bị bóng cây che phủ thì bệnh phát triển mạnh hơn.
 
Các giống lúa khác nhau thì mức độ mẫn cảm với bệnh cũng khác nhau; giai đoạn lúa làm đòng - trỗ đến chín sữa là giai đoạn lúa, mẫn cảm nhất với bệnh và cũng gây thiệt hại năng suất cao nhất.
 
Vi khuẩn tồn tại chủ yếu trong hạt hoặc tàn dư cây bệnh, ngoài ra còn tồn tại ở dạng viên keo vi khuẩn, trên cỏ dại. Khi gặp điều kiện thời tiết thuận lợi vi khuẩn lại tiếp tục phát sinh và gây hại.
 
IV. Biện pháp phòng chống
 
Giải pháp quan trọng nhất để chủ động phòng, chống bệnh bạc lá lúa là sử dụng giống lúa chống chịu bệnh và áp dụng đồng bộ các biện pháp canh tác, cần tập trung vào một số điểm sau:
 
1. Sử dụng giống chống chịu bệnh
 
Chọn giống chống chịu tốt với bệnh bạc lá để đưa vào gieo cấy, đặc biệt là vụ mùa ở các tỉnh phía Bắc.

Đối với những vùng thường xuyên bị bệnh nặng cần rà soát, điều chỉnh cơ cấu giống, sử dụng các giống lúa có khả năng chống chịu hoặc ít nhiễm bệnh. Hạn chế gieo trồng các giống lúa chất lượng nhưng nhiễm bệnh bạc lá nặng trong mùa vụ có nhiều mưa bão.

 
2. Bố trí thời vụ
 
Tùy theo vùng có thể bố trí thời vụ họp lý để giai đoạn lúa đòng - trỗ - chín sữa vào thời gian ít mưa, bão.
 
3. Biện pháp canh tác
 
Ngay từ đầu vụ áp dụng các gói kỹ thuật canh tác như: kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI), “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm”, quản lý dịch hại tổng họp IPM. Trong đó, tập trung vào các biện pháp như giảm mật độ gieo cấy, chăm sóc, bón thúc sớm, bón tập trung và cân đối N:P:K để tạo điều kiện cho lúa sinh trưởng phát triển tốt và tăng khả năng chống chịu bệnh ngay từ giai đoạn đầu.

Khi bệnh xuất hiện, dừng ngay bón phân đạm, không phun các chất kích thích sinh trưởng, phân bón lá và luôn giữ đủ nước trong ruộng.

 
4. Thuốc Bảo vệ thực vật
 
Tại những vùng thường xuyên bị bệnh bạc lá nặng, giống nhiễm nặng, có thể sử dụng một số thuốc trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam có hoạt chất Bismerthiazol, Copper hydroxide, Oxolinic acid, Thiodiazole zinc, Thiodiazole copper, ... để phun sau đợt mưa giông hoặc khi bệnh mới xuất hiện (tỷ lệ bệnh dưới 5%) theo chỉ dẫn của cơ quan chuyên ngành BVTV hoặc theo hướng dẫn ghi trên bao bì để phòng ngừa và hạn chế sự lây lan của bệnh.

V.
 Tổ chức thực hiện
 
Trung tâm Bảo vệ thực vật vùng, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức, triển khai, hướng dẫn nông dân áp dụng Quy trình kỹ thuật này.

Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh cần báo cáo ngay về Cục Bảo vệ thực vật để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp điều kiện thực tế của sản xuất./.

 
Cục BVTV

Lượt xem: 2586

Tin mới nhất:

Văn bản chỉ đạo điều hành

Công điện 37/CĐ-TW ngày 13/8/2018 của BCĐ Trung ương về chủ động ứng phó bão số 4

Về việc tăng cường công tác quản lý chăm sóc nuôi dưỡng đàn bò giống thuộc các nguồn vốn hỗ trợ

Công văn số 1154/SNN-TTBVTV ngày 25/7/2018  V/v hướng dẫn khắc phục hậu quả mưa bão đối với sản xuất vụ Xuân, Hè thu 2018

Công văn số 1153/SNN-TL ngày 27/7/2018 về việc phòng tránh mưa lũ, lũ quét, sạt lở đất

Công điện số 08/CĐ-TCTLQLCT ngày 24/7/2018 về việc tăng cường công tác đảm bảo an toàn công trình thủy lợi và phòng chống ngập lụt úng cho cây trồng. Đề phòng mưa lớn do ảnh hưởng của vùng áp thấp.

Công văn 282/BC-SNN Báo cáo tổng hợp thiệt hại do mưa, gió lốc trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 7 từ ngày 20 đến ngày 23/7/2018

Công điện số 14/CĐ-TW ngày 18/7/2018 của Ban Chỉ đạo TWPCTT - Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, TT&TKCN chỉ đạo ứng phó với áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, lũ quét và sạt lở đất

Văn bản số 1121/SNN-TL ngày 17/7/2018 về việc chủ động ứng phó với ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 3

Văn bản số 813/TT-CLT ngày 17/7/2018 V/v chỉ đạo sản xuất ứng phó với cơn bão Sơn Tinh

Văn bản số 1085/SNN-TTr ngày 13/7/2018 V/v tăng cường công tác quản lý nhà nước về giống cây trồng trên địa bàn

Công văn số 1026/SNN-KH ngày 06/07/2018 về việc đôn đốc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm 2018

V/v chủ động phòng, chống và khắc phục hậu quả do thiên tai, mưa lũ trong nuôi trồng thủy sản

Tuyên Quang

Số lượt truy cập: 628454- Đang online : 1051