Xây dựng nông thôn mới

  • Tài liệu tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới (07/05/2012 12:00:00 SA)

 

(Kèm theo Văn bản số  694 /UBND-NLN ngày 11/4/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang)

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bẩy Ban chấp hành Trung ương đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai trên địa bàn các xã trong phạm vi cả nước, nhằm phát triển nông thôn toàn diện, với nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở.

Tỉnh đã triển khai chương trình đến 129 xã, qua 2 năm đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên công tác tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới làm chưa tốt, nhiều người dân nông thôn và cán bộ, lãnh đạo các cấp, các ngành chưa hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong xây dựng nông thôn mới.

Tuyên truyền xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc tổ chức thực hiện chương trình, là nhiệm vụ của các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở. Vì vậy, cần phải thống nhất xây dựng nội dung tuyên truyền và tập trung tuyên truyền sâu, rộng, thường xuyên, liên tục trên cơ sở bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, nội dung xây dựng nông thôn mới và tình hình, kết quả, nhiệm vụ giải pháp thực hiện chương trình của tỉnh.

1. Mục tiêu của việc tuyên truyền

Để mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu về tầm quan trọng của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; hiểu được nội dung, phương pháp, cách làm, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc xây dựng nông thôn mới để tạo ra phong trào thi đua sâu rộng, sôi nổi trong xã hội, giúp cho cộng đồng chủ động hơn trong việc tham gia thực hiện Chương trình. Xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước trong xây dựng nông thôn mới.

2. Nhiệm vụ tuyên truyền

Tuyên truyền về nguyên tắc, tiêu chí, nội dung của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; phương pháp huy động nguồn lực, các cơ chế chính sách trong xây dựng nông thôn mới…

Tuyên truyền để người dân nông thôn thấy rõ vai trò chủ thể của mình và phát huy nội lực của cộng đồng để xây dựng nông thôn mới.

Tuyên truyền, biểu dương những thành quả của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh.

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1. Xây dựng nông thôn mới là gì?

Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.

2. Các tiêu chuẩn nông thôn mới

2.1. Tiêu chuẩn “Hộ nông thôn mới”

a) Gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương; tích cực tham gia các phong trào thi đua của địa phương:

- Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân; không vi phạm pháp luật Nhà nước (không di dịch cư trú tự do; không phá rừng làm nương; không hủy hoại nguồn nước; không lấn chiếm, sử dụng đất đai trái phép; không mua, bán, vận chuyển, tàng trữ lâm sản, khoáng sản trái phép; không khiếu kiện đông người), quy định của địa phương và quy ước, hương ước cộng đồng;

- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vệ sinh môi trường; nếp sống văn hóa nơi công cộng; bảo vệ di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan của địa phương; tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư;

- Không vi phạm các quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; không mắc các tệ nạn xã hội; tham gia tích cực bài trừ tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm;

- Tham gia thực hiện đầy đủ các phong trào thi đua; các sinh hoạt, hội họp ở cộng đồng.

b) Gia đình hòa thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng:

- Vợ chồng bình đẳng, thương yêu giúp đỡ nhau tiến bộ. Không có bạo lực gia đình dưới mọi hình thức; thực hiện bình đẳng giới; sinh con đúng quy định, cùng có trách nhiệm nuôi con khỏe, dạy con ngoan;

- Gia đình nề nếp; ông bà, cha mẹ gương mẫu; con cháu thảo hiền; giữ gìn các giá trị văn hóa gia đình truyền thống, đặc biệt là tiếng nói, chữ viết, trang phục và phong tục tập quán tốt của dân tộc mình, tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa mới về gia đình;

- Giữ gìn vệ sinh phòng bệnh; có trên 50% số người trong hộ có bảo hiểm y tế;

- Nhà ở ngăn nắp; khuôn viên xanh-sạch-đẹp; sử dụng nước sạch; nhà tắm, nhà vệ sinh và chuồng nuôi gia súc hợp vệ sinh, được chỉnh trang xây dựng theo quy hoạch; các thành viên trong gia đình có nếp sống lành mạnh, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao;

- Tích cực tham gia chương trình xóa đói, giảm nghèo; đoàn kết tương trợ xóm giềng, giúp đỡ đồng bào hoạn nạn; hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và các hoạt động nhân đạo khác ở cộng đồng.

c) Tổ chức lao động, sản xuất, kinh doanh, công tác, học tập đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả:

Trẻ em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, chăm ngoan, hiếu học; người lớn trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, thu nhập ổn định, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trên 50% lao động trong hộ được đào tạo nghề.

Có kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, chủ động “Xóa đói giảm nghèo”, năng động làm giàu chính đáng

Kinh tế gia đình ổn định, thực hành tiết kiệm; đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của các thành viên trong gia đình ngày càng nâng cao

d) Sản xuất và xây dựng nơi ở phải theo quy hoạch.

2.2. Tiêu chuẩn “Thôn nông thôn mới”

Có tối thiểu 70% số hộ đạt tiêu chuẩn “Hộ nông thôn mới”.

(1). Thực hiện đúng theo quy hoạch của xã về hạ tầng, sản xuất, dân cư.

(2). Các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội đạt chuẩn (giao thông: trên 50% số đường trục thôn được cứng hóa đạt chuẩn; cơ bản đường ngõ, xóm không lầy lội vào mùa mưa; 65% đường trục chính ra đồng được cứng hóa; thuỷ lợi: hệ thống thuỷ lợi trên địa bàn đáp ứng cơ bản yêu cầu về sản xuất và dân sinh; điện: trên 70% số hộ sử dụng điện an toàn, thường xuyên; cơ sở vật chất trường học trên địa bàn đạt chuẩn; có nhà văn hóa, khu thể thao theo quy định của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch; 60% nhà ở đạt chuẩn Bộ Xây dựng, không còn nhà tạm.

(3). Về thu nhập: 90% số hộ có đời sống ổn định; Tỷ lệ hộ nghèo <5%. 

(4). Đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, phong phú:

- Có hương ước cộng đồng và được thực hiện đầy đủ; các công trình lịch sử, văn hoá, cảnh quan được tôn tạo, bảo vệ; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang…; không có người mắc tệ nạn xã hội (nghiện hút, cờ bạc, mại dâm, vận chuyển, tàng trữ, mua bán ma tuý và các văn hoá phẩm độc hại thuộc diện cấm lưu hành). Có phong trào giúp nhau giảm nghèo, cải thiện, nâng cấp nơi ăn, ở phù hợp yêu cầu nông thôn mới.

- 100% trẻ trong độ tuổi được đến trường; Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở; Tổ chức tốt tuyên truyền giáo dục pháp luật; tỷ lệ lao động qua đào tạo trên 50%.

- Bảo hiểm y tế trên 50% số hộ; Không xảy ra dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm đông người; 100% trẻ em được tiêm chủng; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng nhỏ hơn 1,5%.

- 60% hộ sử dụng nước sạch, nhà tắm, nhà tiêu, chuồng nuôi gia súc hợp vệ sinh; Không có hoạt động suy giảm môi trường; Nghĩa trang được quản lý theo quy hoạch; Rác thải, chất thải được thu gom xử lý thích hợp; Đường làng, ngõ xóm phong quang, sạch sẽ.

(5). Trong năm, Chi bộ và các tổ chức đoàn thể xếp loại khá; không có các điểm nóng về an ninh trật tự xã hội; không có khiếu kiện đông người vượt cấp kéo dài.

2.3. Tiêu chí “Xã nông thôn mới”?

Gồm 19 tiêu chí trên 5 lĩnh vực được quy định tại Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

- 5 nhóm là: Nhóm 1: Quy hoạch, nhóm 2: Hạ tầng kinh tế xã hội, nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm 4: Văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm 5: Hệ thống chính trị.

- 19 tiêu chí là: 1: Quy hoạch, 2: Giao thông, 3: Thủy lợi, 4: Điện, 5: Trường học, 6: Cơ sở vật chất văn hóa, 7: Chợ,  8: Bưu điện, 9: Nhà ở dân cư, 10: Thu nhập, 11: Tỷ lệ hộ nghèo, 12: Cơ cấu lao động, 13: Hình thức tổ chức sản xuất, 14: Giáo dục, 15: Y tế, 16: Văn hóa, 17: Môi trường, 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, 19: An ninh, trật tự xã hội.

3. Vì sao phải xây dựng nông thôn mới?

Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp. Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển. 

Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ.

Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao.

Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục...); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch.

Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.

Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó.

4. Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới?

- Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.

- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư.

- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).

- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.

5. Ai làm nông thôn mới?

Người nông dân và cộng đồng dân cư giữ vai trò là chủ thể. Họ được biết, được bàn, được quyết định, tự làm, tự giám sát và được thụ hưởng (quy hoạch, đề án, huy động vốn, quản lý...). Đóng góp công sức, tiền của để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình, đầu tư cho sản xuất, đóng góp xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã.

Cấp ủy, chính quyền xã, chi ủy, trưởng thôn là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

Nhà nước giữ vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các cơ chế, chính sách hỗ trợ, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, tổ chức thi đua gắn với khen thưởng.

 6. Thực hiện xây dựng nông thôn mới phải làm những gì?

Xây dựng nông thôn theo 19 tiêu chí, thuộc 5 nhóm việc:

- Tuyên truyền, vận động, lập quy hoạch, lập đề án, kế hoạch xây dựng nông thôn mới thiết thực, hiệu quả;

- Chỉnh trang khu dân cư, nhà ở, khuôn viên, vườn ao, tường rào... để có cảnh quan đẹp, đảm bảo vệ sinh môi trường nông thôn;

- Huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống;

- Phát triển sản xuất, có nhiều mô hình sản xuất đạt hiệu quả cao, nâng cao thu nhập trên diện tích đất canh tác;

- Từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hoá và đảm bảo an ninh nông thôn.

7. Tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới như thế nào?

Xây dựng nông thôn mới theo 7 bước sau:

Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện.

Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện).

Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới.

Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã.

Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã.

Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án.

Bước 7: Giám sát, đánh giá và báo cáo tình hình thực hiện chương trình.

8. Thôn phải làm như thế nào?

Sau khi đề án và quy hoạch xây dựng nông thôn mới của xã đã được phê duyệt, các thôn họp dân để xây dựng kế hoạch phát triển của thôn (5 năm và hàng năm) trong đó cần bàn thống nhất các nội dung:

- Các hộ dân chủ động: Cải tạo nâng cấp nhà ở, xoá nhà tạm; chỉnh trang khuôn viên, vườn ao, hàng rào, cổng ngõ, các công trình vệ sinh (nhà tắm, nhà tiêu, chuồng trại chăn nuôi, công trình nước sạch…) theo quy định chung của thôn; sắp xếp đồ dùng sinh hoạt trong gia đình gọn, đẹp.

- Xác định hướng đi phát triển kinh tế của từng hộ gia đình trong thôn (theo quy hoạch của xã); lựa chọn nghề phù hợp để chủ động nâng cao kiến thức, đào tạo nghề..., chuyển đổi lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp.

- Nhân dân bàn và thống nhất đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng của thôn, xã: Đường thôn, đường nội đồng, kênh mương, nhà văn hoá, nhà mẫu giáo và khu thể thao thôn, hệ thống cống rãnh thoát nước thải, trồng cây xanh, vườn hoa, điện chiếu sáng nơi công cộng…

- Xây dựng hương ước, quy ước của thôn về nếp sống văn hoá, về an ninh trật tự xã hội trong thôn.

- Ban Phát triển thôn phát động thi đua giữa các hộ gia đình trong thôn với nhau, thi đua với thôn khác trong thực hiện xây dựng nông thôn mới theo phương châm “Làm từ nhà làm ra”. Tổ chức cho các hộ ký cam kết xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch của thôn.

- Khi đã thực hiện xong các công việc của hộ, Ban phát triển thôn xây dựng kế hoạch đề nghị với xã hỗ trợ xây dựng các công trình công cộng của thôn (trong đó nêu rõ cam kết đóng góp của dân trong thôn để xây dựng công trình).

- Khi kế hoạch được duyệt: Ban Phát triển thôn tổ chức họp dân bàn biện pháp thực hiện kế hoạch; bầu Ban giám sát xây dựng công trình của thôn; tham gia nghiệm thu các công việc đã hoàn thành, thông báo công khai quyết toán phần nguồn lực, kinh phí hàng năm do dân đóng góp để thực hiện xây dựng nông thôn mới tại thôn.

- Sau khi công trình hoàn thành, Ban Phát triển thôn có trách nhiệm nhận bàn giao công trình đưa vào sử dụng, xây dựng kế hoạch vận động nhân dân trong thôn bảo vệ, duy tu, bảo dưỡng các công trình trên địa bàn.

9. Xã phải làm như thế nào?

Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của xã cần tập trung chỉ đạo, tăng cường kiểm tra, động viên, khích lệ, làm cho các thành viên, cán bộ cấp dưới phải thực sự vào cuộc.

Tập trung tuyên truyền mạnh mẽ, sâu, rộng, liên tục trên nhiều phương tiện, nhiều hình thức với nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ để mọi người hiểu mục đích, ý nghĩa, cách làm nông thôn mới. Từ đó khích lệ khát vọng và niềm tin vào công cuộc xây dựng nông thôn mới của nhân dân.

Ban chỉ đạo xã cần tập trung trí tuệ để xây dựng quy hoạch, đề án nông thôn mới của xã.

Việc triển khai đề án xây dựng nông thôn mới cần theo nguyên tắc: ưu tiên làm ở thôn, xóm, hộ gia đình trước nhằm tạo sự hào hứng tham gia của cộng đồng. Hằng năm trên cơ sở đề án, kế hoạch của các thôn, kế hoạch của xã phân công các thành viên Ban quản lý triển khai các nội dung.

Làm chủ đầu tư đối với một số hạng mục công trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã theo quy định hiện hành của Trung ương, của tỉnh và được giao theo quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền.

Thường xuyên theo dõi, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện Chương trình trên địa bàn xã cho Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp trên.

10. Nguồn lực xây dựng nông thôn mới gồm những nguồn nào?

Nguồn vốn xây dựng nông thôn mới có 5 nguồn chính:

- Đóng góp của cộng đồng (bao gồm cả công sức, tiền của đóng góp và tài trợ của các tổ chức, cá nhân);

- Vốn đầu tư của các doanh nghiệp;

- Vốn tín dụng (bao gồm cả đầu tư phát triển và thương mại);

- Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước;

- Vốn tài trợ khác.

Lưu ý: Thực hiện xây dựng nông thôn mới cần có sự kế thừa, lồng ghép các chương trình, dự án đang và sẽ triển khai trên địa bàn. Các công trình xây dựng phải trên cơ sở chỉnh trang, nâng cấp là chính để giảm thiểu nguồn lực trong điều kiện kinh tế còn khó khăn.

11. Nội lực của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới?

Nội lực của cộng đồng bao gồm: công sức, tiền của do người dân và cộng đồng đầu tư bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở, nhà bếp; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh theo chuẩn nông thôn mới; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang…

Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng, soi bãi, trên đất rừng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao.

Đóng góp, xây dựng các công trình công cộng của làng xã như giao thông, kiên cố hóa kênh mương, vệ sinh công cộng…

Tự nguyện hiến đất để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế-xã hội theo quy hoạch của xã.

 

 

12. Vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng nông thôn mới?

Tham gia ý kiến vào đề án xây dựng nông thôn mới và đồ án quy hoạch nông thôn mới cấp xã; tham gia lập kế hoạch thực hiện Chương trình (thôn, xã).

Tham gia và lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau thật thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương.

Quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã.

Trực tiếp tổ chức thi công hoặc tham gia thi công xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế-xã hội của xã, thôn theo kế hoạch hàng năm.

Cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã, thôn.

Tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành.

13. Một số khẩu hiệu trong xây dựng nông thôn mới

- “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới”.

- “Tuyên Quang chung sức xây dựng nông thôn mới”.

- “Tuổi trẻ xã...chung sức xây dựng nông thôn mới”.

- “Xã..... đồng sức, đồng lòng xây dựng nông thôn mới.

- “Nông thôn mới, sức sống mới, diện mạo mới”.

- “Toàn dân tích cực tham gia xây dựng nông thôn giàu đẹp, văn minh.

- “Nông nghiệp phát triển, nông thôn văn minh, nông dân giàu có”.

- “Nông nghiệp Tuyên Quang phát triển toàn diện, từng bước tiến lên hiện đại”.

14. Một số văn bản hướng dẫn xây dựng nông thôn mới

Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28 tháng 10 năm 2011 của  Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;

Nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 23/11/2011 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khóa XV) về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020;

Kế hoạch số 03/KH-UBND ngày 01/02/2012 của Ủy ban nhân tỉnh về tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Tuyên Quang chung sức xây dựng nông thôn mới”;

Hướng dẫn số 612/HD-BCĐXDNTM ngày 09/05/2011 của Ban Chỉ đạo chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 tỉnh Tuyên Quang;

- Văn bản hướng dẫn của các bộ, ban, ngành Trung ương và của tỉnh.

II. MỘT SỐ KẾT QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA TỈNH VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ĐẾN NĂM 2020

1. Đánh giá thực trạng các xã của tỉnh Tuyên Quang năm 2011 so với 19 tiêu chí nông thôn mới như thế nào?

Qua đánh giá hiện trạng nông thôn năm 2011 và so sánh với Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, tỉnh ta chưa có xã đạt "Xã nông thôn mới".

- Những tiêu chí có nhiều xã đã đạt là: Tiêu chí 19 về An ninh trật tự xã hội có 128 xã; tiêu chí 18 về  Hệ thống tổ chức chính trị xã hội có 96 xã; tiêu chí 16 về văn hoá có 45 xã; tiêu chí số 3 về thuỷ lợi có 66 xã đạt.

- Tiêu chí chưa có xã nào đạt: Tiêu chí 17 về Môi trường; tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hoá.

- Các tiêu chí khó thực hiện: Tiêu chí 12 về cơ cấu lao động; tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hoá; Tiêu chí số 5 về cơ sở vật chất trường học; Tiêu chí số 2 về giao thông; tiêu chí 17 về môi trường.

- Xã đạt được nhiều tiêu chí nhất: Xã Tràng Đà - thành phố Tuyên Quang (11 tiêu chí), xã An Tường - thành phố Tuyên Quang  (10 tiêu chí). Xã đạt ít chỉ tiêu nhất: Xã Bạch Xa (huyện Hàm Yên); xã Phú Bình, xã Trung Hoà (huyện Chiêm Hoá)… đạt 1 tiêu chí.

2. Kết quả sau 2 năm triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới

Chúng ta đã thành lập xong bộ máy quản lý, giúp việc tổ chức thực hiện Chương trình từ tỉnh đến thôn, bản: Từ tỉnh đến xã có Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới các cấp và bộ phận giúp việc; ở xã có Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới xã; ở thôn có Ban phát triển thôn. Bộ máy quản lý, thực hiện Chương trình đã hoạt động tương đối tốt.

Đã triển khai tuyên truyền rộng rãi về Chương trình trên toàn tỉnh. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể đã lồng ghép tuyên truyền xây dựng nông thôn mới vào các cuộc họp của tổ chức mình hoặc tổ chức các cuộc tuyên truyền riêng. Các cơ quan thông tấn cũng đã từng bước tăng cường tuyên truyền xây dựng nông thôn mới. Tổ chức cuộc thi báo chí với chủ đề Tuyên Quang chung sức xây dựng nông thôn mới.

Tỉnh đã tổ chức tập huấn cho cán bộ các cấp từ tỉnh đến thôn, bản về một số nội dung cơ bản của Chương trình trước khi đánh giá hiện trạng nông thôn, lập đề án và quy hoạch nông thôn mới.

Phát động phong trào thi đua Tuyên Quang chung sức xây dựng nông thôn mới và ban hành kế hoạch thực hiện phong trào.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khoá XV) đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 23/11/2011 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến năm 2020 và Ban Chỉ đạo tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và một số ngành đã ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cần thiết để triển khai thực hiện Chương trình.

129 xã trong tỉnh đã tiến hành lập đề án và quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới. Đến nay đã có 86 xã phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới xã, 26 xã phê duyệt quy hoạch chung. Tuy nhiên, việc quy hoạch chung của tất cả các xã cần hiểu rõ quy hoạch phát triển sản xuất nâng cao thu nhập là quan trọng nhất và bổ sung quy hoạch sử dụng đất theo hướng dẫn mới của các bộ, ngành Trung ương.

Tỉnh đã chọn 7 xã làm điểm gồm: Thượng Lâm, Năng Khả, Bình Xa, An Khang, Mỹ Bằng, Tân Trào và Kim Bình (2 xã: Nhữ Hán, huyện Yên Sơn và Đại Phú, huyện Sơn Dương, huyện chọn thực hiện điểm xây dựng nông thôn mới của huyện). Trong năm 2011, đã lồng ghép một số chương trình vào thực hiện xây dựng nông thôn mới ở 7 xã như: chương trình bêtông hoá giao thông nông thôn; xây dựng công trình thuỷ lợi, điện, trường học, hỗ trợ cơ sở vật chất cho nhà văn hoá thôn, xây dựng các mô hình khuyến nông, tổ chức các lớp đào tạo nghề cho lao động; giữ vững an ninh trật tự xã hội. Thí điểm hỗ trợ 3 công trình vệ sinh theo Quyết định 272/QĐ-UBND ngày 21/8/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

3. Mục tiêu cụ thể xây dựng nông thôn mới đến năm 2015, định hướng đến năm 2020

3.1. Đến năm 2015

Có ít nhất 9 xã đạt (mỗi huyện, thành phố 01 xã; riêng huyện Yên Sơn và Sơn Dương là 02 xã) đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

100% các xã đạt chuẩn các tiêu chí: Quy hoạch nông thôn mới cấp xã; Y tế; Hệ thống chính trị. 50% số xã đạt tiêu chí về giao thông. 50% kênh mương do xã quản lý được kiên cố hoá - 85% số hộ dân được sử dụng điện thường xuyên, an toàn.  30% trường học các cấp có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia. Trên 10% số xã đạt chuẩn về cơ sở vật chất văn hóa. Trên 10% số xã có chợ nông thôn đạt chuẩn. 100% số xã có điểm phục vụ bưu chính, viễn thông. 30% số thôn có internet.  100% số xã không còn nhà tạm. 60% số hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn. Mỗi huyện, thành phố có ít nhất 01 xã có thu nhập bình quân đầu người/năm bằng 1,2 lần so với thu nhập bình quân chung khu vực nông thôn toàn tỉnh. Ít nhất có 10% số xã có tỷ lệ hộ nghèo dưới 10%. Trên 6% số xã có tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp dưới 45%;  Trên 50% số xã có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả. Duy trì 100% xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Trên 70% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề). Trên 45% lao động qua đào tạo. 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Trên 70% số xã đạt tiêu chí về văn hoá.  75% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 45% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn quốc gia.  20% số xã đạt chuẩn về môi trường. Trên 85% cán bộ công chức xã đạt chuẩn. Hàng năm có trên 85% Đảng bộ xã đạt "trong sạch, vững mạnh"; chính quyền và các tổ chức đoàn thể xã đạt vững mạnh.

3.2. Đến năm 2020

Duy trì các tiêu chí đã đạt chuẩn đến năm 2015 và thực hiện hoàn thành các tiêu chí về: Thủy lợi, bưu điện, nhà ở dân cư.

Toàn tỉnh có trên 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (40/129 xã). Thành phố Tuyên Quang đạt chuẩn nông thôn mới cấp huyện.

Trên 70% số xã đạt tiêu chí về giao thông.  95% số hộ được sử dụng điện thường xuyên, an toàn.  Trên 70% trường học các cấp có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia. Trên 40% số xã đạt chuẩn về cơ sở vật chất văn hóa.   Trên 80% số xã có tổ hợp tác, hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.  Trên 60% lao động qua đào tạo. Trên 70% số xã đạt tiêu chí văn hoá. Trên 90% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 50% số hộ sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn quốc gia. Trên 50% số xã đạt chuẩn về môi trường. Trên 95% cán bộ, công chức xã đạt chuẩn; hàng năm 100% Đảng bộ xã đạt trong sạch, vững mạnh, chính quyền xã và các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội cấp xã đạt vững mạnh; 100% số xã không xảy ra điểm nóng về an ninh, trật tự. 

4. Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện xây dựng nông thôn mới đến năm 2020

Nghị quyết 27/NQ-TU ngày 23/11/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (Khóa XV) đã đề ra 7 nhiệm vụ, giải pháp sau:

- Lập quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới;

- Đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với phát triển đô thị;

- Đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung;

- Xây dựng, bổ sung cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực phát triển nhanh kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới;

- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn;

- Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, chú trọng bảo vệ môi trường;

- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với xây dựng nông thôn mới.

file đính kèm: Tài liệu tuyên truyền xây dựng NTM


 Return